Ủy ban nhân dân xã Sơn Thủy ban hành kế hoạch khai thác, sử dụng tài nguyên nước mùa cạn năm 2026 trên địa bàn xã Sơn Thủy, với các nội dung chủ yếu sau:
I MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU
1. Mục đích
- Chủ động điều hòa, phân phối tài nguyên nước trên địa bàn xã trong mùa cạn năm 2026.
- Bảo đảm ưu tiên cấp nước sinh hoạt, góp phần bảo đảm an ninh nguồn nước, an ninh lương thực và an ninh năng lượng.
- Phòng ngừa, giảm thiểu nguy cơ thiếu nước cục bộ, hạn hán; hạn chế tác động bất lợi đến đời sống Nhân dân và hoạt động sản xuất, kinh doanh.
2. Yêu cầu
- Các cơ quan, đơn vị; các thôn trên địa bàn xã chủ động tổ chức thực hiện Kế hoạch khai thác, sử dụng tài nguyên nước trên địa bàn xã giai đoạn từ tháng 01 đến tháng 6 năm 2026 theo nhiệm vụ, thẩm quyền được giao. Chủ trì, phối hợp trong việc tham mưu điều hòa, phân phối nguồn nước phù hợp với thực trạng nguồn nước, đáp ứng nhu cầu khai thác, phục vụ cấp nước sinh hoạt, sản xuất trên địa bàn xã.
- Đề xuất kế hoạch khai thác, sử dụng nước của từng công trình, từng khu vực theo từng tháng, năm. Đề xuất các giải pháp điều hòa, phân phối nguồn nước tại các khu vực có nguy cơ thiếu nước, trong đó ưu tiên cho cấp nước sinh hoạt, sản xuất, phù hợp với thực trạng nguồn nước của xã.
II. PHẠM VI, THỜI KỲ THỰC HIỆN
1. Phạm vi thực hiện: Trên địa bàn xã Sơn Thủy, theo các lưu vực và tiểu lưu vực sông thuộc địa bàn xã.
2. Thời kỳ thực hiện: Mùa cạn năm 2026 (từ tháng 01 đến tháng 6 năm 2026).
III. HIỆN TRẠNG NGUỒN NƯỚC VÀ DỰ BÁO XU THẾ DIỄN BIẾN MƯA, DÒNG CHẢY, LƯỢNG NƯỚC TÍCH TRỮ TRONG CÁC HỒ CHỨA NƯỚC LỚN
1. Hiện trạng nguồn nước trên địa bàn xã
1.1. Hiện trạng nguồn nước mưa, nước mặt
a) Theo Kịch bản nguồn nước trên lưu vự c sông Phó Đáy mùa cạn năm 2025-2026:
- Trong thời gian từ tháng 6 đến tháng 10 năm 2025, tổng lượng mưa trên toàn lưu vực phổ biến cao hơn trung bình nhiều năm (TBNN) cùng thời kỳ từ khoảng 30% đến 60%. Đặc biệt trong các tháng 9 và tháng 10 năm 2025, do xuất hiện nhiều đợt mưa diện rộng, tổng lượng mưa tại các lưu vực tiếp tục cao hơn trung bình nhiều năm từ khoảng 30% đến 80%, trong đó một số khu vực cao gấp 2 đến 3 lần TBNN cùng kỳ.
- Tổng lượng dòng chảy trên sông, suối trong thời gian từ tháng 6 đến tháng 10 năm 2025 phổ biến cao hơn TBNN cùng thời kỳ, đặc biệt trong tháng 10 năm 2025 do xuất hiện các đợt mưa lớn trên diện rộng.
b) Theo số liệu Đài Khí tượng Thủy văn tỉnh Tuyên Quang
- Trong thời gian từ tháng 01-11/2025, tổng lượng mưa tại các khu vực trên địa bàn tỉnh dao động từ khoảng 1.900-3.300mm. Phần lớn các khu vực cótổng lượng mưa cao hơn TBNN và cùng kỳ năm trước từ 300mm đến 900mm.
+ Riêng trong tháng 7 và 12/2025, tổng lượng mưa trên địa phổ biến ở mức
thấp hơn TBNN; Trong đó tháng 7/2025 tổng lượng mưa tháng phổ biến từ 155- 420mm, phổ biến thấp hơn TBNN từ 62-196mm.
1.2. Hiện trạng tích nước của các hồ chứa
- Tính đến ngày 31/12/2025, trên địa bàn xã Sơn Thủy có 35 công trình thủy lợi trong đó có 24 hồ chứa, 8 đập xây và 3 trạm bơm điện. Các hồ chứa phục vụ cung ứng nước cho sản xuất.
- Hồ Khoan Lư (thôn Khoan lư) phục vụ tưới cho 96,092 ha; hồ Làng Nàng 33,323ha; hồ Thanh Thất 25,975ha; hồ Trúc Long 14,905ha; hồ Ao Xanh 14,122ha; hồ Rộc Nhội 18,125ha; hồ Trúc Long 10,08ha; hồ Ông Phong 10,595ha; Hồ Đình Bà 9,037ha; còn lại là các hồ chứa nhỏ phục vụ tưới cho các diện tích dưới 10ha. Các hồ chứa nêu trên cơ bản đáp ứng yêu cầu cấp nước phục
vụ sinh hoạt và sản xuất nông nghiệp theo thiết kế.
1.3. Hiện trạng cấp nước sinh hoạt
a) Cấp nước sạch nông thôn
- Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh Môi trường Nông thôn quản lý khai thác, vận hành 02 Công trình cấp nước sinh hoạt tại xã Thiện Kế và Ninh Lai cũ.
- Ủy ban nhân dân xã đang quản lý, vận hành và khai thác 9/9 công trình cấp nước sạch, sử dụng nguồn nước mặt trên các sông, suối trên địa bàn xã. Trong những năm gần đây, một số nguồn nước mặt phục vụ cấp nước sinh hoạt bị suy giảm lượng nước vào mùa khô (từ đầu tháng 12 năm trước đến hết tháng 4 năm sau), dẫn đến tình trạng thiếu nước cục bộ tại Khu vực phía Đông Nam của xã (khu vực xã Sơn Nam cũ)).
b) Cấp nước sạch/nước hợp vệ sinh nông thôn:
- Trong những năm qua trên địa bàn xã, các công trình cấp nước sạch nông được đầu tư theo hướng nhà nước và nhân dân cùng làm, người dân được tham gia nhiều hơn vào các giai đoạn đầu tư của các dự án cấp nước. Tuy nhiên, phần lớn các công trình cấp nước trên địa bàn xã được đầu tư từ nguồn vốn Chương trình mục tiêu quốc gia về nước sạch và VSMT nông thôn, vốn Chương trình hỗ trợ đất sản xuất, đất ở, nhà ở và nước sinh hoạt cho đồng bào dân tộc thiểu số nghèo, đời sống khó khăn… với quy mô rất nhỏ, công nghệ xử lý nước đơn giản, chưa đồng bộ, khép kín, dân cư khu vực cấp nước phân tán, cơ bản khách hàng sử dụng nước sinh hoạt ở vùng nông thôn có điều kiện kinh tế khó khăn. Phần lớn các hộ dân sử dụng rất ít nước từ công trình CNSH tập trung nông thôn do đã có nguồn nước nhỏ lẻ khác (đặc biệt là các tháng mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 hàng năm), vì vậy nguồn thu tiền sử dụng nước từ các công trình không đủ để chi trả cho công tác quản lý vận hành công trình dẫn đến hầu hết các công trình đã xuống cấp trầm trọng hoặc không thể khắc phục được nên không phát huy hiệu quả sau đầu tư. Bên cạnh đó, việc đầu tư xây dựng công trình cấp nước vẫn còn phụ thuộc rất lớn vào nguồn vốn ngân sách nhà nước, việc xã hội hóa trong công tác đầu tư và quản lý vận hành sau đầu tư trong lĩnh vực nước sạch nông thôn vẫn chưa thực hiện được trên địa bàn xã.
- Phân loại theo mô hình cấp nước: Cấp nước tập trung nông thôn 9/9 công trình, chiếm 100 %. Nhìn chung, nguồn nước cơ bản bảo đảm nhu cầu cấp nước sinh hoạt cho Nhân dân; tuy nhiên, trong mùa khô từ tháng 01 đến tháng 5 hàng năm vẫn tiềm ẩn nguy cơ thiếu nước cục bộ. Như vậy cấp nước sinh hoạt khu vực nông thôn trên địa bàn xã cơ bản đáp ứng nhu cầu trong điều kiện bình thường; tuy nhiên, tại khu vực Sơn Nam nguy cơ thiếu nước trong mùa khô vẫn còn, cần được theo dõi, chủ động điều hòa, bổ sung nguồn nước và có phương án ứng phó kịp thời trong giai đoạn từ tháng 01 đến tháng 6 năm 2026.
1.4. Hiện trạng khai thác nguồn nước tại các hồ chứa thủy lợi, hệ thống công trình thủy lợi Trên địa bàn xã Sơn Thủy có 37 công trình thủy lợi, trong đó: Hồ chứa: 26 công trình; Đập dâng: 08 công trình; Trạm bơm điện: 03 công trình, các công trình hiện đảm bảo tưới cho 1.573,38 ha (gồm: Trọng lực: 1.259,47ha; Động lực: 314,13ha).
- Các công trình giao cho BQL công trình thủy lợi Tuyên Quang quản lý 07 công trình trong đó có 03 Hồ chứa, 02 Trạm Bơm và 02 Đập dâng đảm bảo tưới cho 1.237,236ha (gồm: Trọng lực: 278,092ha; Động lực: 959,171ha).
- Các công trình do BQL công trình Thủy lợi xã Sơn Thủy quản lý có 30 công trình thủy lợi, trong đó: Hồ chứa: 23 công trình; Đập dâng: 06 công trình; Trạm bơm điện: 01 công trình, các công trình hiện đảm bảo tưới cho 336,119ha (gồm: Trọng lực: 36,041ha; Động lực: 300,076ha). Tổng chiều dài hệ thống kênh mương 36.229 m (kênh kiên cố 23.398 m, kênh đất 12.901m). Các công trình thủy lợi trên địa bàn xã được giao cho Ban quản lý khai thác CTTL Tuyên Quang và Ban quản lý công trình thủy lợi xã Sơn Thủy, tổ chức quản lý khai, thác và bảo vệ. Nhìn chung, các công trình thủy lợi cơ bản đáp ứng nhu cầu tưới phục vụ sản xuất nông nghiệp; tuy nhiên, vào mùa khô, do ảnh hưởng của thời tiết nắng nóng kéo dài và lưu lượng nguồn nước suy giảm, một số công trình có nguy cơ thiếu nước cục bộ cụ thể như sau:
- Khu vực Phía Đông Nam: Các công trình hồ Đồng Kinh, Rộc Nhội, Cửa Làng, Trúc Long, Ông Phong, Gốc Gạo, Cây Cọ, Lò Mật, Khuyến Nông, Trạm Xá, Đình Mới, Đồng Kiệm, Cống Lồng và Ốc Lồng và Thồng Lồng có khả năng bị hạn với diện tích khoảng 59,237ha, lượng nước thiếu dự kiến từ khoảng 20-
30% so với công suất thiết kế. Như vậy trên địa bàn xã Sơn Thủy, các công trình thủy lợi cơ bản đáp ứng nhu cầu nước tưới phục vụ sản xuất nông nghiệp; tuy nhiên, vào mùa khô, do ảnh hưởng của thời tiết nắng nóng kéo dài và lưu lượng nguồn nước suy giảm, có khoảng 15 công trình có nguy cơ thiếu nước cục bộ. Đây là cơ sở để xã xây dựng phương án điều hòa, phân phối nguồn nước và ưu tiên cấp nước cho sản xuất nông nghiệp trong giai đoạn từ tháng 01 năm đến tháng 6 năm 2026.
2. Dự báo xu thế diễn biến mưa, dòng chảy, lượng nước tích trữ trong các hồ chứa trong kỳ kế hoạch
- Hiện nay hiện tượng ENSO đang trong trạng thái La Nina. Dự báo, trong 03 tháng tới, xác suất duy trì trạng thái La Nina ở mức khoảng 50% đến 60%, trong khi xác suất chuyển sang trạng thái trung tính khoảng 40% đến 50%. Trong giai đoạn từ tháng 02 đến tháng 4 năm 2026, ENSO có khả năng chuyển dần sang trạng thái trung tính với xác suất khoảng 55% đến 65%; xác suất duy trì trạng thái La Nina khoảng 25% đến 30% và El Nino khoảng 5% đến 20%.
- Về nhiệt độ: Trong thời gian từ tháng 11 năm 2025 đến tháng 3 năm 2026, nhiệt độ trung bình trên khu vực phổ biến xấp xỉ trung bình nhiều năm cùng thời kỳ. Giai đoạn từ tháng 4 đến tháng 6 năm 2026, nhiệt độ trung bình có xu hướng cao hơn trung bình nhiều năm từ khoảng 0,5°C đến 1,0°C. Nắng nóng có khả năng xuất hiện tại khu vực Tây Bắc Bộ từ cuối tháng 3 năm 2026, và từ tháng 4 năm 2026 có khả năng xảy ra nắng nóng trên diện rộng tại khu vực Bắc Bộ, làm gia tăng nhu cầu sử dụng nước cho sinh hoạt và sản xuất. Nhận định chung, trong kỳ kế hoạch, nguồn nước trên các lưu vực thuộc địa bàn xã cơ bản đáp ứng nhu cầu khai thác, sử dụng trong điều kiện bình thường; tuy nhiên, trong các tháng cao điểm mùa khô và thời kỳ nắng nóng, vẫn tiềm ẩn nguy cơ thiếu nước cục bộ, đòi hỏi phải chủ động điều hòa, phân phối và sử dụng nước tiết kiệm.
2.1. Xu thế thời tiết, thủy văn từ tháng 4 năm 2026 đến tháng 6 năm 2026
a) Khí tượng
- Nắng nóng: Nhiệt độ trung bình ở mức xấp xỉ trên và cao hơn so với TBNN từ 0,5-1,00C (TBNN là 25,1-27,10C). Từ khoảng cuối tháng 4 đầu tháng 5 các khu vực khả năng xuất hiện nắng nóng cục bộ, sau đó nắng nóng gia tăng về cường độ và tần suất. Trên địa bàn xã khả năng xuất hiện nắng nóng diện rộng từ cuối tháng 5/2026.
- Dông, lốc, sét, mưa đá và mưa lớn cục bộ: Từ nửa cuối tháng 4, không khí lạnh kết hợp với hội tụ gió gây mưa dông; Từ tháng 5 đến tháng 6/2026, rãnh áp thấp kết hợp với hội tụ gió gây mưa lớn, cần đề phòng các hiện tượng thời tiết cực đoan (tố, lốc, mưa đá...) trong mưa dông giai đoạn đầu mùa mưa (tháng 4 đến tháng 5).
- Khả năng tác động: Các hiện tượng nêu trên có thể ảnh hưởng bất lợi đến môi trường, điều kiện sống, cơ sở hạ tầng, các hoạt động kinh tế-xã hội, sản xuất nông nghiệp và sức khỏe cộng đồng tại các khu vực chịu tác động; Nắng nóng kết hợp với độ ẩm trong không khí giảm thấp ảnh hưởng tới sức khỏe người dân khi làm việc ngoài trời, gia tăng nguy cơ xảy ra cháy nổ và hỏa hoạn ở khu vực dân cư do nhu cầu sử dụng điện tăng cao và nguy cơ cao xảy ra cháy rừng (đặc biệt là khu vực rừng đặc dụng ).
b) Dự báo thủy văn và nguồn nước
- Xu thế mực nước trên các sông, suối thuộc địa bàn từ tháng 4-6/2026 là các tháng cuối mùa cạn đến đầu mùa lũ, mực nước trên sông dao động mạnh và có xu hướng lên dần.
- Tổng lượng mưa 3 tháng ở mức xấp xỉ trên so với TBNN (TBNN: 536-615mm). Có nguy cơ xảy ra lũ quét, sạt lở đất nơi có địa hình dốc, khu vực có kết cấu đất đá yếu, kém ổn định và ngập úng vùng trũng thấp, ven sông suối.
- Mực nước trên sông giai đoạn này dao động mạnh và có xu hướng lên dần. Lũ, lũ quét, sạt lở đất có thể gây tác động rất xấu đến môi trường, điều kiện sống, cơ sở hạ tầng, các hoạt động kinh tế- xã hội, cần theo dõi chặt chẽ diễn biến mực nước và chủ động các biện pháp phòng, tránh để giảm thiểu các thiệt hai do thiên tai có thể gây ra.
2.2. Dự báo lượng nước tích trữ trong các hồ chứa
-Trong giai đoạn từ tháng 01 đến tháng 6 năm 2026, là thời kỳ cao điểm mùa khô, lượng mưa trên lưu vực thấp hơn đáng kể so với trung bình cả năm, kéo theo lưu lượng dòng chảy về các hồ chứa thủy lợi giảm. Theo dự báo, lượng nước về hồ trong mùa khô có thể thấp hơn khoảng 20-30% so với tổng lượng dòng chảy trung bình năm.
-Do đó, trong kỳ kế hoạch, khả năng tích trữ và bổ sung nước cho các hồ chứa thủy lợi chủ yếu phụ thuộc vào lượng nước đã tích lũy từ mùa mưa năm trước; Điều này đòi hỏi tăng cường phối hợp điều tiết, vận hành hồ chứa hợp lý, bảo đảm hài hòa giữa yêu cầu nhiệm vụ điều hòa, bổ sung nguồn nước sản xuất.
2.3. Dự báo nhu cầu và khả năng cấp nước củ a các hồ chứa thủy lợi,
hệ thống công trình thủy lợi
-Trong giai đoạn từ tháng 01 đến tháng 6 năm 2026, do ảnh hưởng của mùa khô kéo dài và lượng mưa thấp, khả năng bổ sung nước cho các công trình thủy lợi trên địa bàn xã bị hạn chế. Theo đánh giá hiện trạng và dự báo nguồn nước, toàn xã có khoảng 11/30 công trình thủy lợi có nguy cơ thiếu nước trong mùa khô từ tháng 01 năm 2026 đến tháng 4 năm 2026, với mức thiếu hụt ước từ khoảng 20% đến 50% so với công suất thiết kế. Việc thiếu nước tại các công trình này chủ yếu xảy ra cục bộ, tập trung tại các khu vực Đông Nam của xã, phụ thuộc lớn vào nguồn nước tự nhiên.
- Do đó,trong kỳ kế hoạch cần ưu tiên bố trí, điều hòa nguồn nước hợp lý, áp dụng các biện pháp tưới tiết kiệm, đồng thời chủ động phương án ứng phó nhằm hạn chế thấp nhất ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp và đời sống Nhân dân.
IV. KẾ HOẠCH KHAI THÁC, SỬ DỤNG NƯỚC THEO TỪNG THÁNG, THỜI KỲ TRONG NĂM
1. Kế hoạch khai thác, sử dụng nước sinh hoạt đến tháng 6 năm 2026
1.1. Kế hoạch khai thác, sử dụng nước sinh hoạt khu vực nông thôn
a) Nhiệm vụ
- Quản lý, vận hành, khai thác các công trình cấp nước sạch/nước hợp vệ sinh khu vực nông thôn, bảo đảm đáp ứng nhu cầu sử dụng nước của Nhân dân.
- Chủ động rà soát, tìm kiếm các nguồn nước bổ sung cho các công trình có nguy cơ thiếu nước trong mùa khô.
b) Giải pháp
- Trước mùa khô, đơn vị quản lý, vận hành tổ chức kiểm tra, vệ sinh khu vực cửa lấy nước, hệ thống dẫn nước; giảm thiểu thất thoát, lãng phí nước tại các công trình cấp nước sạch/hợp vệ sinh khu vực nông thôn trên địa bàn xã có nguy cơ thiếu hụt lượng nước cung cấp.
- Thường xuyên kiểm tra, sửa chữa, vận hành, khai thác các công trình cấp nước sạch/hợp vệ sinh khu vực nông thôn trên địa bàn xã đảm bảo cung cấp đủ nhu cầu sử dụng nước của người dân.
- Trường hợp xảy ra hạn hán, thiếu nước, nghiên cứu, đề xuất phương án cấp nước bổ sung hoặc thay thế nguồn cấp, bảo đảm lưu lượng và chất lượng nước hợp vệ sinh.
- Tăng cường tuyên truyền, vận động người dân sử dụng tiết kiệm nước, có biện pháp tích trữ nước để đảm bảo nhu cầu sử dụng; trong trường hợp xảy ra hạn hán, thiếu hụt lượng lớn nước cấp cho sinh hoạt, vận động nhân dân tìm kiếm nguồn nước dưới đất để sử dụng như: Các nguồn nước dưới đất xuất lộ tự nhiên, đào mới hoặc sửa chữa giếng nước đã có.
2. Kế hoạch khai thác, sử dụng nước phục vụ sản xuất nông nghiệp
a) Nhiệm vụ
- Quản lý, vận hành các công trình thủy lợi, bảo đảm cấp nước phục vụ sản xuất nông nghiệp phù hợp với điều kiện nguồn nước mùa khô.
- Chủ động điều hòa, phân phối nước, hạn chế thấp nhất thiệt hại do thiếu nước gây ra.
b) Giải pháp
- Các đơn vị quản lý, vận hành công trình thủy lợi xây dựng kế hoạch canh tác, kế hoạch lấy nước tưới phù hợp với mùa vụ, bám sát kịch bản nguồn nước và kế hoạch này.
- Thường xuyên kiểm tra, duy tu, sửa chữa, vận hành, khai thác tốt các hồ chứa thủy lợi, hệ thống công trình thủy lợi trên địa bàn xã, chủ động nạo vét kênh mương, khơi thông dòng chảy, giảm thất thoát, lãng phí nước, đảm bảo nguồn nước tưới tiêu phục vụ sản xuất, nhất là thời điểm mùa khô từ tháng 12 (năm trước) đến tháng 6 (năm sau);
- Tổ chức khai thác, cấp nước sản xuất theo các đợt, mùa vụ để nâng cao hiệu quả sử dụng nước; bố trí cơ cấu sản xuất, mùa vụ, thời điểm xuống giống
phù hợp;
- Tuyên truyền, vận động người dân sử dụng tiết kiệm nước, thực hiện lấy nước theo đợt theo thông báo của đơn vị khai thác, cung cấp; chuyển đổi cơ cấu cây trồng đối với những diện tích thiếu nước; sử dụng các giống cây trồng thích ứng với điều kiện hạn hán; đối với diện tích nuôi trồng thủy sản có khả năng thiếu nước cần giảm quy mô hoặc chuyển đổi, sử dụng các giống nuôi thích ứng với điều kiện hạn hán, thiếu nước để tránh gây thiệt hại cho nhân dân
c) Các thôn trên địa bàn xã thực hiện
- Tích cực lan tỏa thông tin về bảo vệ và tiết kiệm tài nguyên nước đến cộng đồng vận động nhân dân thực hiện nghiêm các quy định của pháp luật về tài nguyên nước, triển khai thực hiện có hiệu quả Kế hoạch này đảm bảo sử dụng nước hợp lý trong mùa cạn.
- Chủ động áp dụng các biện pháp tưới tiết kiệm cho cây trồng, sử dụng nguồn nước hợp lý trong sinh hoạt và sản xuất để giảm thiểu lãng phí trong thời gian cao điểm có nguy cơ thiếu nước.
- Tham gia giám sát, phát hiện và thông báo cho thôn, UBND xã về các hành vi vi phạm, gây ô nhiễm, làm cạn kiệt nguồn nước.
- Sẵn sàng các phương án, dụng cụ tích trữ nước tại gia đình và cộng đồng, tham gia các hoạt động nạo vét kênh mương, khơi thông dòng chảy.
*Trên đây là Kế hoạch khai thác, sử dụng tài nguyên nước mùa cạn năm 2026 trên địa xã Sơn Thủy. Đề nghị các cơ quan, đơn vị liên quan nghiêm túc triển khai thực hiện./.